Những điểm mới nổi bật của Luật THADS tập trung vào 05 nhóm vấn đề lớn sau đây:

1. Phạm vi bản án, quyết định do cơ quan THADS tổ chức thi hành và các nguyên tắc cơ bản trong THADS.
2. Quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
3. Hệ thống THADS và Văn phòng THADS; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong THADS.
4. Trình tự, thủ tục THADS.
5. Khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị về THADS.

Nội dung chi tiết:
1. Cơ cấu tổ chức của Cơ quan thi hành án:
a. Quy định rõ về vị trí, vai trò của cơ quan thi hành án dân sự trong Luật tại Điều 19 Luật Thi hành án dân sự 2025
- Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan. (Khoản 1 Điều 19 Luật Thi hành án dân sự)
- Cơ quan thi hành án dân sự có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng. Người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. (Khoản 2 Điều 19 Luật Thi hành án dân sự)
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án cấp quân khu. (Khoản 4 Điều 19 Luật Thi hành án dân sự)
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS cơ bản giữ nguyên Luật hiện hành, đồng thời, có bổ sung nhiều nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS nhằm thực hiện đồng bộ, hiệu quả, kịp thời chủ trương của Đảng.

b. Quy định về cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trong Luật (Khoản 3 Điều 19 Luật Thi hành án dân sự 2025)
Theo đó, cơ cấu tổ chức của cơ quan THADS tỉnh, thành phố bao gồm các đơn vị sau đây:
- Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực;
- Các đơn vị cấp phòng khác.
Có thể thấy tại Luật thi hành án dân sự 2008 vẫn còn tổ chức theo mô hình nhiều cấp (Cục – Chi cục), còn cồng kềnh, phân cấp quản lý dẫn đến chồng chéo trách nhiệm.
Tại Luật thi hành án dân sự 2025 đã thể chế hóa mô hình cơ quan THADS một cấp ở địa phương, hướng tới tinh gọn bộ máy, tập trung thẩm quyền, tăng tính chịu trách nhiệm.

c. Quy định chức danh mới Chấp hành viên trưởng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự 2025
Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng THADS khu vực, Luật đã bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng và quy định Trưởng phòng Phòng THADS khu vực đồng thời là Chấp hành viên trưởng theo quy định tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự
Thứ nhất, Chấp hành viên trưởng là chức danh tư pháp được giao cho người đứng đầu Phòng THADS khu vực, giữ ngạch Chấp hành viên trung cấp trở lên, có các nhiệm vụ quyền hạn thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền, phân công của Thủ trưởng của cơ quan THADS; phân công nhiệm vụ tổ chức thi hành án cho các Chấp hành viên thuộc Phòng THADS khu vực; hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức thi hành án đối với Chấp hành viên tại Phòng THADS khu vực…
Thứ hai, theo quy định của Luật THADS, Chấp hành viên là chức danh tư pháp, do Nhà nước bổ nhiệm để tổ chức thi hành án và chịu trách nhiệm về các hoạt động THADS. Bên cạnh đó, THADS hiện được xác định là hoạt động tư pháp, có tính độc lập tương đối, khác với các hoạt động hành chính, chuyên môn khác. Trưởng phòng THADS là chức danh quản lý, lãnh đạo về hành chính, không có chức năng chỉ đạo các hoạt động tư pháp.
Do đó, cần có người chịu trách nhiệm về chuyên môn và chỉ đạo chuyên môn đối với hoạt động THADS của Chấp hành viên. Chức danh Chấp hành viên trưởng, Trưởng Phòng THADS khu vực là “cánh tay nối dài” của Thủ trưởng cơ quan THADS trong điều kiện số lượng vụ việc lớn, địa bàn rộng như hiện nay sẽ đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời trong giải quyết việc THADS cho người dân và doanh nghiệp.
Mặt khác, chức danh này còn đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời, tương xứng trong phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vấn đề phát sinh trong THADS trên địa bàn theo quy định của pháp luật về THADS, về tố tụng và các quy định khác.
Thứ ba, thực tế khi triển khai việc chuyển giao công tác từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ quản lý (tháng 6/1993), khi đó Phòng THADS là một phòng chuyên môn thuộc Sở Tư pháp nên Pháp lệnh THADS năm 1993 cũng đã quy định Trưởng Phòng THADS là Chấp hành viên trưởng (Điều 15 Pháp lệnh THADS năm 1993 và các Điều 13, Điều 14 Nghị định số 30-CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hành của cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên). Quy định này đã đảm bảo các chỉ đạo về hoạt động hành chính không lấn sân vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ THADS.

d. Quy định về việc phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS cho Phó Thủ trưởng cơ quan THADS và người đứng đầu các đơn vị chuyên môn theo Khoản 3 Điều 22 Luật Thi hành án dân sự 2025
- Giữ nguyên quy định về việc Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
“Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.”
- Bổ sung quy định về việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể phân công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.
Người được phân công, ủy quyền phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đã được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, ủy quyền.
Chính phủ sẽ quy định chi tiết những trường hợp không được ủy quyền, trong đó cơ bản sẽ rà soát và thể chế hóa các Công văn hướng dẫn sau sắp xếp của Bộ Tư pháp để nghiên cứu, đề xuất phù hợp.

2. Quy định cơ chế “gửi lại yêu cầu thi hành án” tại Khoản 4 Điều 38 Luật thi hành án dân sự 2025.
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật THADS (sửa đổi) là quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án. Theo đó, tại khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 đã bổ sung quy định hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ (xác minh lại) mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án.
Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
“Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.”

3. Về quản lý kho vật chứng quy định tại Khoản 6 Điều 116 Luật tố tụng dân sự 2025
Theo quy định của Luật THADS và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ quản lý kho vật chứng trong giai đoạn xét xử, thi hành án. Mặc dù quy định này có những ưu điểm nhất định nhưng việc tồn tại song song kho vật chứng của Công an nhân dân và cơ quan THADS sẽ dẫn đến bị phân tán địa điểm, gây khó khăn trong việc tiếp nhận, bảo quản, xử lý vật chứng; thiếu đồng bộ.
Quy định như hiện nay cũng sẽ dễ dẫn đến hư hỏng, thất lạc và phát sinh chi phí lớn để bảo quản, vận chuyển, thuê nhân lực cho ngân sách nhà nước; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thật hiệu quả; công tác bảo vệ của cơ quan THADS gặp nhiều khó khăn đối với một số vật chứng là tài sản đặc thù như: ma túy, chất dễ cháy nổ…
Do đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng:
“đ) Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.”.
Với việc sửa đổi, bổ sung quy định này, việc quản lý, bảo quản vật chứng sẽ được thống nhất về một đầu mối, đảm bảo an toàn và tiết kiệm cho ngân sách nhà nước.
Đồng thời, Luật cũng quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với thay đổi liên quan đến trách nhiệm bảo quản vật chứng, cụ thể như sau: Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
“Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
Nhà nước bố trí các điều kiện cần thiết để đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống kho vật chứng của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.”

4. Về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ trong hoạt động thi hành án dân sự
Luật THADS (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS (như: Điều 5 ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Điều 9 về điều kiện bảo đảm cho công tác THADS, Điều 35 về thông báo qua phương tiện điện tử, Điều 37 về ứng dụng công nghệ thông tin trong xác minh, Điều 54 về thanh toán qua chuyển khoản... Luật thi hành án dân sự 2025); trong đó nổi bật là Luật đã dành riêng một điều riêng để quy định về Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong THADS. Theo đó:
- Bổ sung quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và ngược lại.
- Bổ sung quy định các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật. Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Bổ sung quy định văn bản, hồ sơ, tài liệu trong Luật bao gồm văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy và văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử
- Quy định về thông báo thi hành án trên môi trường số; xác minh điều kiện thi hành án thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; việc chuyển giao bản án, quyết định, gửi hồ sơ thi hành án theo yêu cầu có thể thực hiện trên môi trường số; bổ sung phương thức thanh toán tiền thi hành án qua chuyển khoản hoặc phương tiện thanh toán khác…
- Để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Luật quy định một số điều khoản có hiệu lực sớm (ngày 20 tháng 01 năm 2026), bao gồm quy định liên quan đến chuyển đổi số, giá trị pháp lý của các thủ tục trên môi trường số, trách nhiệm kết nối, chia sẻ của các cơ quan trong THADS..., như: khoản 9 và khoản 11 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27.

5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương; trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp
a. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương trong THADS
- Quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh trong công tác THADS tại Khoản 4 Điều 10 Luật thi hành án dân sự 2025
“a) Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;
b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;
c) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thừa hành viên; đăng ký hành nghề và cấp Thẻ Thừa hành viên; tạm đình chỉ hành nghề Thừa hành viên; thành lập, đăng ký hoạt động, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về khiếu nại;
đ) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.”
- Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong THADS quy định tại Khoản 4 Điều 10 Luật thi hành án dân sự 2025, bao gồm:
“a) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn;
b) Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật;
c) Cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;
d) Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;
đ) Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định của Luật này;
e) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Chính phủ.”

b. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS được quy định tại Điều 11 và Điều 13 Luật thi hành án dân sự 2025. Trong đó có bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành.
“Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì giải quyết theo thủ tục rút gọn.” (Theo điểm c Khoản 5 Điều 11 Luật Thi hành án dân sư 2025)

c. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công an trong THADS
- Luật THADS hiện hành mới có quy định về việc cơ quan công an sẽ phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có thể gặp phải sự chống đối, cản trở của người phải thi hành án ở tất cả các giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án, chứ không phải chỉ khi cưỡng chế. Từ việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thẩm định giá đến xem tài sản để thực hiện việc định giá tài sản, hay việc xem tài sản khi đưa tài sản ra bán đấu giá…đều gặp phải sự chống đối của người phải thi hành án. Do đó, Luật THADS (sửa đổi) đã thay đổi cách tiếp cận. Đó là cơ quan công an sẽ không chỉ “bảo vệ cưỡng chế thi hành án”, mà còn “bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án” trong trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án.
“Trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an bảo đảm trật tự, an toàn theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm của cơ quan Công an theo khoản 1 Điều này không cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ quốc tế và hình sự khẩn cấp của cơ quan Công an theo quy định của Luật Dân độ và các luật khác có liên quan.” (Khoản 2 Điều 14 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Sửa đổi quy định trách nhiệm chính của trại giam, trại tạm giam theo hướng: Trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án, người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù phối hợp trong việc thông báo về thi hành án, cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, thu, trả tiền, tài sản liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án, người được thi hành án. (Khoản 1 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự 2025)
Nội dung này, sẽ được quy định chi tiết hơn tại Nghị định của Chính phủ.

d. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong THADS
- Quy định chung tại Điều 14 về Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật.
- Tại một số Điều luật cụ thể cũng đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan này trong xác minh điều kiện thi hành án, thực hiện các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của cơ quan THADS.
“Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật.” (Khoản 1 Điều 14 Luật Thi hành án dân sự 2025)

6. Về kiểm sát thi hành án dân sự
- Xác định rõ thẩm quyền kiểm sát, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối với hoạt động tổ chức thi hành án của cơ quan THADS, Chấp hành viên, văn phòng THADS, Thừa hành viên tại Khoản 1 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Quy định rõ thời hạn kháng nghị đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc, cụ thể: Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án. (Khoản 2 Điều 112 Luật Thi hành án dân sự 2026)
- Sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân để phù hợp với mô hình tổ chức cơ quan THADS một cấp tại địa phương và các quy định liên quan đến xã hội hóa hoạt động THADS tại Luật.

7. Bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu trong nhiều năm nhưng chưa có phương án giải quyết tại Khoản 4 Điều 57 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Theo đó đã quy định: Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Đối với khoản tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo quy định tại khoản này.
“Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Đối với khoản tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo quy định tại khoản này.”

8. Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí tổ chức thi hành án
Luật THADS (sửa đổi) tiếp tục kế thừa quy định về trình tự, thủ tục lớn, cơ bản của Luật THADS hiện hành, bao gồm các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát để “đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí”, cụ thể:
a. Về việc ra quyết định thi hành án (Điều 33, 34 Luật thi hành án dân sự 2025)
- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với “Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định” theo điểm d khoản 2 Điều 33 Luật thi hành án dân sự 2025.
- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật (Điểm h Khoản 2 Điều 33 Luật thi hành án dân sự 2025). Đây là quy định “mở” để dự phòng các trường hợp pháp luật quy định, ví dụ trường hợp theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
- Bổ sung quy định về “trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó” (Theo Khoản 3 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025). Đây là quy định nhằm giải quyết vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài mà cần xác định phán quyết đó có đang bị yêu cầu huỷ phán quyết hay không.

b. Về xác minh điều kiện thi hành án
- Giảm thời hạn xác minh lần đầu từ 10 ngày xuống 09 ngày.
“Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay” (Theo Khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Bổ sung quy định việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án.
“Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án” (Theo Khoản 3 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Quy định rõ cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.
“Cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.” (Theo điểm d Khoản 4 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Bổ sung quy định cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.
“Cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký tài sản có trách nhiệm cung cấp thông tin về người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.
Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.” (Theo Điểm c Khoản 6 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Bổ sung quy định Chấp hành viên có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.
“Tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.”
(Theo Điểm c Khoản 6 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025)
Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức có liên quan yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh.

c. Về thông báo thi hành án
- Quy định rõ các loại văn bản cần thông báo bao gồm: quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
“Quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.” (Khoản 1 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự 2025).
- Quy định các hình thức thông báo tại Khoản 3 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự 2025 bao gồm:
“a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.”
- Bổ sung quy định trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.
- Bổ sung quy định về các hình thức thông báo trong trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài.
“Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.
Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:
a) Thông báo trên môi trường số theo quy định của pháp luật;
b) Yêu cầu tương trợ tư pháp để tống đạt giấy tờ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự;
c) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cho người được thông báo là công dân Việt Nam;
d) Gửi qua đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của người được thông báo đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với hình thức này;
đ) Thông báo qua văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc người đại diện tại Việt Nam của người được thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.” (Theo Khoản 4 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự 2026)
- Chính phủ sẽ quy định cụ thể hơn về việc lựa chọn từng hình thức thông báo trong các trường hợp cụ thể.
d. Về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án
- Rút ngắn thời hạn đương sự yêu cầu xác định, phân chia tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án từ 45 ngày xuống còn 30 ngày.
“Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.” (Theo Điểm b Khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Đồng thời, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành.
“Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì giải quyết theo thủ tục rút gọn.” (Theo Điểm c Khoản 5 Điều 11 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Bổ sung quy định trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng theo quy định mà Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập.
“Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều này thì không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án; nếu Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập.” (Theo Khoản 6 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025)
e. Quy định rõ hơn về việc xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Sửa đổi quy định về thủ tục xử lý tài sản mà bản án, quyết định hình sự tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án theo hướng Chấp hành viên xử lý tài sản theo hiện trạng thực tế tài sản (nếu tài sản thay đổi sau khi có bản án) nhằm rút ngắn thời gian, thủ tục để bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước.
“Trường hợp hiện trạng tài sản thực tế khác với biên bản kê biên, lệnh kê biên, quyết định kê biên hoặc giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thì trước khi thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan đã kê biên giải thích. Căn cứ kết quả giải thích, cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:
a) Trường hợp việc kê biên không đúng hiện trạng tài sản thực tế thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án giải thích hoặc kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Văn bản trả lời của Tòa án là căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản;
b) Trường hợp có căn cứ xác định tài sản thay đổi sau thời điểm kê biên hoặc hết thời hạn trả lời theo quy định của pháp luật mà không nhận được văn bản trả lời của Tòa án quy định tại điểm a khoản này thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo hiện trạng tài sản thực tế theo quy định của Luật này và quy định của luật có liên quan.” (Theo Khoản 2 Điều 60 Luật Thi hành án dân sự 2025)
f. Sửa đổi quy định về thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng xác định đúng bản chất của các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đưa ra phương án tổ chức thi hành phù hợp, cụ thể:
Quy định theo hướng nhanh gọn, phù hợp với tính chất phải kịp thời của loại quyết định này như:
- Đối với phần lớn các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau khi cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên chỉ thực hiện thủ tục thông báo quyết định thi hành án là hoàn thành việc thi hành án.
- Không quy định thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cấm chuyển dịch tài sản, phong tỏa tài khoản vì không cần thiết, bản chất các loại quyết định khẩn cấp tạm thời này đã là các biện pháp bảo đảm thi hành án, không phát sinh thủ tục tổ chức thi hành nên chỉ cần thực hiện thông báo theo thủ tục chung.
- Không quy định phải thực hiện thủ tục kê biên, xử lý tài sản để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cho thu hoạch, bán hoa màu, từ đó cắt giảm được thời gian tổ chức thực hiện công việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản...
g. Xác định rõ phương án xử lý đối với từng loại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, cụ thể:
- Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đang được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định đã bị hủy thì cơ quan THADS sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với phần bị hủy (toàn bộ hoặc một phần), trừ những phần đã thi hành xong.
- Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì việc thi hành án được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án và quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành phù hợp với nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Việc giải quyết hậu quả đối với phần bản án, quyết định đã được thi hành xong nhưng bị hủy được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và bản án, quyết định mới.
h. Về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
- Biện pháp phong tỏa tài khoản:
+ Quy định biện pháp phong tỏa tài khoản không chỉ được áp dụng với tiền trong tài khoản mà còn được áp dụng với tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.
“ Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản đang gửi giữ” (Theo Khoản 1 Điều 67 Luật Thi hành án dân sự 2025)
+ Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản. (Theo Khoản 2 Điều 67 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Sửa tên, phạm vi biện pháp “tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” thành “Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” được quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Quy định trách nhiệm của người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản: “không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
- Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ cơ bản giữ như quy định hiện hành tại Điều 69 Luật thi hành án dân sự 2025.
- Bổ sung biện pháp “tạm hoãn xuất cảnh” thuộc thẩm quyền áp dụng của Thủ trưởng cơ quan THADS. Quy định rõ người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp:
+ Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó;
+ Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật;
+ Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ;
+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật (bao gồm cả các luật về xuất, nhập cảnh, pháp luật khác có liên quan và sau này Nghị định của Chính phủ cũng sẽ dự kiến quy định một số trường hợp cụ thể).
“a) Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó;
b) Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật này;
c) Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ;
d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
i. Về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
Ý nghĩa của quy định mới: Nội dung này thể hiện định hướng cải cách của Luật Thi hành án dân sự 2025 nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thi hành án, bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định được thực hiện minh bạch, thống nhất và phù hợp hơn với thực tiễn quản lý nhà nước.
- Rà soát toàn bộ các quy định hiện hành về biện pháp kê biên tài sản để đưa các nội dung có cùng tính chất, phạm vi, đang được đặt rải rác ở các Điều khác nhau vào từng Điều luật, gắn với từng thủ tục cụ thể, đảm bảo rõ ràng, khoa học, dễ áp dụng.
Theo đó, đối với các biện pháp cưỡng chế khác thì mỗi biện pháp cưỡng chế được thiết kế ở 1 Điều. Riêng biện pháp kê biên, xử lý tài sản là một biện pháp quan trọng, được áp dụng phổ biến với thủ tục chặt chẽ nên được quy định tại nhiều Điều (từ Điều 78 đến Điều 87 Luật Thi hành án dân sự 2025), bao gồm: Quyết định kê biên; tài sản không được kê biên; thực hiện kê biên; xử lý tài sản sau khi kê biên; thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên; bán tài sản kê biên; tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án; hủy kết quả đấu giá tài sản; giao tài sản để thi hành án; đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
- Về quyết định kê biên:
+ Quy định chung về điều kiện để ra quyết định kê biên. Theo đó: Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.
+ Quy định về việc ra quyết định kê biên đối với một số tài sản cụ thể, bao gồm: tài sản là quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản cầm cố, thế chấp; hoa lợi; quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, bổ sung quy định về quyền kê biên đối với trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm; trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật; trường hợp tài sản là nhà ở duy nhất thì người phải thi hành án phải có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình, trường hợp nhà ở duy nhất đó được người phải thi hành án đồng ý kê biên hoặc trường hợp đã được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên.
+ Chính phủ sẽ quy định chi tiết Điều này để đảm bảo việc ra quyết định kê biên đối với các tài sản cụ thể sẽ đảm bảo chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật chuyên ngành.
- Tài sản không được kê biên: Đối với trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường vẫn thuộc tài sản không được kê biên như quy định hiện hành nhưng trừ trường hợp tài sản đó gắn liền với các tài sản bị kê biên, xử lý.
- Thực hiện kê biên:
+ Khi kê biên tài sản là nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo cho người đang thuê, mượn, ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản cho thuê, mượn, ở nhờ thì người đang thuê, mượn, ở nhờ có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự giao tài sản cho người mua tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, trừ trường hợp việc thuê, mượn, ở nhờ đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Quyền, lợi ích hợp pháp của người thuê, mượn, ở nhờ thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nếu người thuê, mượn, ở nhờ có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án thì Chấp hành viên buộc họ, những người khác có mặt tự chuyển tài sản và ra khỏi nhà, kể cả chưa đến hạn theo hợp đồng. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà bị kê biên.
+ Khi kê biên mà phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án tại địa điểm kê biên chưa có trong quyết định kê biên thì Chấp hành viên kê biên tài sản đó và ghi nhận trong biên bản kê biên. Ngay sau khi kết thúc việc kê biên, Chấp hành viên phải ra quyết định kê biên bổ sung đối với tài sản đó.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 của Luật này.
- Xử lý tài sản sau khi kê biên
+ Quy định phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác không thuộc đối tượng kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời tài sản ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên mà người có tài sản không di dời tài sản thì Chấp hành viên thực hiện việc bán tài sản đó. Trường hợp tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì tài sản đó được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên. Trong thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo quản cùng tài sản đã kê biên, người có tài sản có quyền nhận lại tài sản sau khi thanh toán các chi phí phát sinh.
Người có tài sản được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí xử lý tài sản đó. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này.
- Sử dụng khái niệm “thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên” thay cho khái niệm “định giá tài sản kê biên” như quy định hiện hành.
+ Quy định việc ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên.
+ Bổ sung quy định về việc “thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác theo quy định của pháp luật”. Dự kiến Nghị định của Chính phủ sẽ có hướng dẫn về xác định giá đối với các tài sản này.
+ Quy định các căn cứ thẩm định giá, xác định giá lại tài sản: (i) Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá lại, xác định giá; (ii) Đương sự có văn bản yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, xác định giá lần đầu. Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại theo yêu cầu của đương sự chỉ được thực hiện một lần. Người yêu cầu phải chịu chi phí và phải nộp ngay tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại theo quy định của Chính phủ; (iii) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi có thông báo công khai việc đấu giá tài sản lần đầu, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó.
+ Xác định rõ giá khởi điểm để đấu giá lần đầu là giá theo kết quả thẩm định giá, xác định giá tại khoản 1 Điều này hoặc giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp thẩm định giá, xác định giá lại thì kết quả thẩm định giá, xác định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để đấu giá theo quy định của Luật này.
- Về bán tài sản kê biên:
+ Sửa đổi quy định về trường hợp chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án nhằm rút ngắn thời gian, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong tổ chức thi hành án, cụ thể như sau: Giảm thời hạn chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung từ 90 ngày đối với bất động sản, 30 ngày đối với động sản xuống còn 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản. Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.
+ Bổ sung quy định trường hợp không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.
+ Tương tự như thẩm định giá, Luật đã quy định về việc bán tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác theo quy định của pháp luật.
- Bổ sung quy định về các căn cứ tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án.
k. Về các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác
- Biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025
+ Bổ sung quy định về nguyên tắc: Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản theo nội dung bản án, quyết định.
+ Quy định rõ phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa được xác định trong bản án, quyết định mà tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm:
Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Hết thời hạn ấn định mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cùng với các tài sản đó cho người được thi hành án.
Nếu người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên có quyền bán tài sản trên đất hoặc tiêu hủy nếu đủ điều kiện tiêu hủy. Khi giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho để tài sản trên đất trong thời gian xử lý tài sản.
- Biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện, không thực hiện công việc (Theo Điều 91 Luật thi hành án dân sự 2025): Không quy định thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trước khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự với người phải thi hành án trong trường hợp này. Tuy nhiên, cơ quan THADS cần lưu ý: Thủ trưởng cơ quan THADS vẫn có quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
m. Quy định mới, rõ ràng về các căn cứ và thời hạn chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản tại Điều 95 Luật Thi hành án dân sự 2025.
- Quy định về quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án.
- Quy định các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (trừ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh - thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và hướng dẫn của Chính phủ), bao gồm:
“a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;
b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án;
d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
- Quy định về các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế (trừ quyết định kê biên), bao gồm:
+ Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
+ Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản không hiệu quả, làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản.
“a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.” (Khoản 4 Điều 95 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Quy định về các căn cứ giải tỏa kê biên tài sản:
“a) Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án;
b) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
- Các biện pháp cưỡng chế khác cơ bản giữ như quy định hiện hành nhưng có rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp, đồng bộ.

9. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự
Bổ sung các quy định về Thừa hành viên và Văn phòng THADS với những nội dung chính như sau:
- Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng THADS để bảo đảm tính phổ thông, dễ hiểu hơn, phù hợp với phạm vi, tính chất hoạt động THADS của tổ chức này. Văn phòng THADS và Thừa hành viên vẫn được thực hiện các hoạt động khác như quy định hiện hành về Thừa phát lại.
“Thay cụm từ “văn phòng thừa phát lại” bằng cụm từ “văn phòng thi hành án dân sự”, thay cụm từ “Thừa phát lại” bằng cụm từ “Thừa hành viên” tại khoản 10 Điều 104 và khoản 4 Điều 123 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15; điểm h khoản 1 Điều 9, điểm b khoản 3 Điều 11, khoản 6 và khoản 8 Điều 14 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15.” (Theo Khoản 2 Điều 114 Luật Thi hành án dân sự 2025)
- Văn phòng THADS tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự; không có thẩm quyền tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án chủ động mà các nhiệm vụ này do cơ quan THADS thực hiện.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Thừa phát lại tiếp tục được thực hiện 04 thủ tục về thi hành án theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, gồm: (1) Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (2) Mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; (3) Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại; (4) Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.
Bên cạnh đó, so với Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Luật đã mở rộng thẩm quyền của Thừa phát lại về 04 thủ tục sau: (i) Được ra quyết định thi hành án; (ii) Được đề nghị Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án; (iii) Được yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; (iv) Được yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án.
Đồng thời, Thừa phát lại được thực hiện thêm 01 thủ tục sau: “Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2025
- Quy định rõ tại Luật về thủ tục thi hành án của Thừa hành viên, văn phòng THADS, trong đó có quy định trường hợp người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.