MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT VIÊN CHỨC
1. Mở rộng quyền hoạt động nghề nghiệp và tham gia kinh doanh của viên chức
Theo Điều 14 Luật Viên chức 2010, viên chức chủ yếu được phép góp vốn nhưng không được tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Luật viên chức 2025 đã mở rộng phạm vi hoạt động nghề nghiệp của viên chức:
a) Mở rộng quyền của viên chức về thực hiện hoạt động nghề nghiệp và hoạt động kinh doanh tại khoản 1, khoản 3 Điều 13 Luật Viên chức 2025:
- Được ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu pháp luật về ngành, lĩnh vực không cấm, bảo đảm không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, không trái với thỏa thuận tại hợp đồng làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
- Được góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, bệnh viện, cơ sở giáo dục, tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài công lập, trừ trường hợp pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật về doanh nghiệp hoặc pháp luật về ngành, lĩnh vực có quy định khác.
Việc mở rộng quyền này đi kèm với yêu cầu không xung đột lợi ích và tuân thủ pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo sự khác biệt rõ rệt so với luật hiện hành.
b) Từ 01/10/2025, theo Điều 58 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 thì viên chức, viên chức quản lý làm việc tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu do tổ chức đó tạo ra khi được sự đồng ý của người đứng đầu tổ chức.
Trường hợp viên chức quản lý là người đứng đầu tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì phải được sự đồng ý của cấp trên quản lý trực tiếp.
2. Quy định mới về phương thức tuyển dụng viên chức
Điều 20 Luật Viên chức 2010 quy định tuyển dụng viên chức chủ yếu thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển. Tại Điều 17 Luật Viên chức 2025 đã bổ sung hình thức tiếp nhận vào làm viên chức không qua thi tuyển đối với một số đối tượng như chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt hoặc người có kinh nghiệm phù hợp với vị trí việc làm. Cụ thể: Ngoài hình thức tuyển dụng thi tuyển, xét tuyển theo quy định, các đối tượng sau đây nếu đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm thì thực hiện theo hình thức tiếp nhận vào làm viên chức:
- Chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt, người có kinh nghiệm phù hợp;
- Người đang ký hợp đồng làm công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập;
- Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực.
3. Bổ sung nghĩa vụ của viên chức và những việc không được làm
Luật Viên chức 2025 đã sửa đổi, bổ sung đáng kể nhóm quy định này, tập trung vào chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật công vụ:
a) Bổ sung một số nghĩa vụ chung của viên chức (khoản 1 Điều 7, Điều 8 Luật Viên chức 2025) như:
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia, dân tộc…
- Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ.
b) Mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 10 Luật Viên chức 2025) trong đó bổ sung quy định không được đăng tải, phát tán, phát ngôn thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước, địa phương và đơn vị nơi công tác.
4. Thay đổi về khái niệm viên chức, phạm vi hoạt động và nguồn thu nhập
- Theo Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Điều 1 Luật Viên chức 2025 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, Luật Viên chức 2025 bổ sung rõ nội dung "hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật".
Quy định mới đã mở rộng cơ sở pháp lý về thu nhập của viên chức, tạo tiền đề cho việc thực hiện cơ chế trả lương theo hiệu quả công việc, thu nhập tăng thêm và gắn với mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, nội dung mà Luật Viên chức 2010 chưa quy định cụ thể.
5. Quản lý viên chức theo vị trí việc làm
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật viên chức 2025: “Thực hiện tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức theo vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc.
Theo đó, Chính phủ đã chỉnh lý một số nội dung liên quan để chuyển đổi phương thức quản lý viên chức theo vị trí việc làm, lấy vị trí việc làm là căn cứ chính để thực hiện tuyển dụng, bố trí, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức.
Đồng thời, chỉnh lý quy định về nghĩa vụ, quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp ở bên ngoài đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chặt chẽ.
Viên chức có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao tại đơn vị sự nghiệp công lập, tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngành, lĩnh vực và không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
6. Phân định rõ các loại hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập
Luật Viên chức 2010 chủ yếu điều chỉnh quan hệ hợp đồng làm việc giữa viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Viên chức 2025 đã phân định rõ ba loại quan hệ hợp đồng, bao gồm hợp đồng làm việc đối với viên chức, hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ tại các Điều 20, Điều 21. Cụ thể:
- Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng vào làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan (Khoản 1 Điều 20 Luật viên chức 2025).
- Căn cứ tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền trước khi ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ để thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
+ Ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để thực hiện công việc của vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc thực hiện công việc của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ (Điểm a Khoản 1 Điều 21 Luật viên chức 2025)
+ Ký hợp đồng để thực hiện công việc của vị trí việc làm hỗ trợ (Điểm b Khoản 1 Điều 21 Luật viên chức 2025).
7. Bổ sung một số tiêu chí đánh giá viên chức, trong đó có năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
a) Luật Viên chức 2025 quy định về nội dung đánh giá viên chức như sau:
- Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, đạo đức nghề nghiệp; ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ; việc chấp hành quy định của pháp luật về viên chức và quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Điểm a Khoản 3 Điều 25 Luật viên chức 2025).
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm; khả năng đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ được giao thường xuyên, đột xuất; tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp đối với các vị trí việc làm tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp; khả năng phối hợp với đồng nghiệp (Điểm b Khoản 3 Điều 25 Luật viên chức 2025).
- Năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ (Điểm c Khoản 3 Điều 25 Luật viên chức 2025).
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm theo vị trí việc làm (Điểm d Khoản 3 Điều 25 Luật viên chức 2025).
- Nội dung khác theo yêu cầu của vị trí việc làm (Điểm đ Khoản 3 Điều 25 Luật viên chức 2025).
Ngoài các nội dung nêu trên, viên chức quản lý còn được đánh giá theo kết quả hoạt động của đơn vị hoặc lĩnh vực được giao lãnh đạo, quản lý, phụ trách; khả năng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ; năng lực tập hợp, đoàn kết viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.
Trước đây tại Luật Viên chức 2010, Luật Viên chức sửa đổi 2019 chưa quy định tiêu chí này.
b) Kết quả đánh giá tại Luật Viên chức 2025 được sử dụng làm căn cứ trực tiếp cho việc trả lương, tiền thưởng, bố trí, sử dụng và xử lý viên chức. Còn theo quy định cũ tại Nghị định 90/2020/NĐ-CP: kết quả đánh giá xếp loại chất lượng cán bộ là căn cứ để bố trí, sử dụng đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, đánh giá và xếp loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ.
c) Đổi mới cơ chế đánh giá với viên chức
Việc đánh giá sẽ được thực hiện thường xuyên, liên tục và dựa trên các tiêu chí định lượng gắn với kết quả công việc. Bên cạnh đó, Luật viên chức 2025 quy định căn cứ vào kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng định kỳ hoặc hàng năm, cấp có thẩm quyền có thể bố trí việc làm ở trình độ thấp hơn hoặc cho thôi việc với trường hợp viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu công việc:
- Viên chức bị xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ vì lý do chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm (Điểm b Khoản 4 Điều 22 Luật viên chức 2025).
- Viên chức được chuyển sang vị trí việc làm mới nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm đó và đơn vị còn nhu cầu về vị trí việc làm (Khoản 1 Điều 24 Luật viên chức 2025).
Đây là điểm mới quan trọng, nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và khắc phục tình trạng bình quân trong quản lý viên chức.
- Nguyên tắc thực hiện đánh giá:
+ Việc đánh giá phải bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều;
+ Nội dung đánh giá phải được định lượng trên cơ sở các tiêu chí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ theo từng vị trí việc làm;
+ Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức;
+ Gắn kết quả đánh giá với việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng và chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.” Khoản 1 Điều 25 Luật viên chức 2025.
8. Điều chỉnh về kỷ luật viên chức và thời hiệu xử lý kỷ luật
Luật Viên chức 2025 đã siết chặt quy định về kỷ luật: Theo Điều 36 Luật Viên chức 2025 đã kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật, theo đó thời hiệu đối với hành vi bị khiển trách tăng từ 02 năm lên 05 năm, các hành vi vi phạm khác tăng từ 05 năm lên 10 năm. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu tiếp tục được giữ nguyên. Thời hạn xử lý kỷ luật vẫn tối đa 90 ngày, trường hợp phức tạp không quá 150 ngày.
Đáng chú ý, thời gian điều tra, truy tố, xét xử hình sự không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật, thay vì không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật như trước.
9. Bổ sung nhiều quy định về xử lý viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu
Luật Viên chức 2010, sửa đổi năm 2019, chưa có quy định đầy đủ về xử lý vi phạm đối với viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Luật Viên chức 2025 tách riêng thành một điều luật độc lập, cụ thể là Điều 42 tập trung trực tiếp vào viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu: Việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu được quy định như sau:
- Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật;
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật;
- Viên chức sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức kỷ luật.
- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Bỏ mốc thời gian chuyển tiếp 01/7/2020, mở rộng phạm vi áp dụng.
10. Quản lý viên chức bằng dữ liệu số và hồ sơ điện tử
Luật Viên chức 2010 chủ yếu quy định quản lý hồ sơ viên chức bằng hồ sơ giấy. Luật Viên chức 2025 tại Điều 41 đã chuyển mạnh sang quản lý hồ sơ điện tử: Hồ sơ viên chức bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, được quản lý trên hệ thống thông tin về viên chức và được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức. Hồ sơ viên chức phải có đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của viên chức.
Viên chức có trách nhiệm bổ sung thông tin cá nhân theo quy định khi có thay đổi; cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt, cập nhật vào hồ sơ viên chức và đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức.
Hotline: